팥아죽 할머니와 호랑이 Bà cụ cháo đậu đỏ và con Hổ
옛날 옛날, 팥죽을 아주 맜있게 잘 쑤는 할머니가.
Ngày xửa ngày xưa, có một bà cụ nấu cháo đậu đỏ rất ngon.
팥 밭을 매고 있는데, 글쎄 호랑이 한 마리가 떡 니타났네.
Khi bà đang làm cỏ trên ruộng đậu đỏ thì lúc đó bỗng nhiên có một con hổ xuất hiện.
“패가 패가 고프니 할멈을 잡아먹어야겠어.”
“Bụng của ta đang rất đói ta phải bắt rồi ăn thịt bà lão này mới được.”
할머미는 무서워 온 몸이 벌벌 떨렸어.
Vì bà lão sợ hãi quá mà người trở nên run cầm cập.
“호랑이야, 울겨울에동시 팥죽 한 번만 쑤면 안 돼겠느냐?”
“Hổ à, tôi chỉ nấu thêm một lần cháo đậu đỏ và mùa đông này nữa thôi được không?”
그러자 호랑이는 팥죽 먹고 싶응 생각에 아쉬운 듯 입맛을 쩝쩝 다시면 몰러났지.
Ngay lúc đó suy nghĩ muốn được ăn cháo Đậu đỏ trong đầu con hổ, nó quay đi và chậc chậc miệng như là khó lắm rồi bỏ đi.
아느덧 동시 전날, 할머니가 팥죽을 저며 한숨을 푹 쉬는데, 자라가 기어와 묻네.
Mới đó mà đã tới trước ngày đông chí, bà lão vừa khuấy cháo đậu đỏ vừa thở dài, thì có một chú baba bò đến và hỏi.
“할멈, 외 그레 한숨을 쉬어?”
“Bà ơi, tại sao bà lại thở dài vậy ạ?”
“내일이면 내가 호랑이 밥이 된단다.”
“Ngày mai ta bị làm mồi cho hổ rồi.”
“어지하면 좋 겠니?”
“Làm thế nào thì tốt đây?”
“할멈, 나 팥죽 한 그릇 줘.”
“Bà ơi, bà hãy cho con một bát cháo đậu đỏ đi.”
“내가 호랑이를 쫓아 줄게.”
“Con sẽ đuổi con Hổ đi cho.”
자라에게한 그릇 가득 퍼 주고는 한순을 또 쉬는, 알밤이 또 르르 굴러와 몰었어.
Bà lão lấy cho baba một bát cháo thật đầy rồi sau đó lại ngồi thở dài tiếp, hạt dẻ cũng lăn tròn đến và hỏi bà
“할멈, 왜 그리 한숨이야?”
“Bà ơi, tại sao bà lại thở dài thế ạ?”
“내일이면 내가 호랑이 밥이 되니, 그게 슬펴 한숨을 쉰단다.”
“Ngày mai bà bị làm mồi cho hổ rồi nên mới buồn bã rồi thở dài như vậy đó.”
“팥죽 한 그릇 주면 내가 호랑이를 쫕아 줄게.”
“Nếu bà cho con một bát cháo thì con sẽ đuổi con hổ đi cho bà.”
이렇게 쇠동, 맷돌, 지게, 멍석까지 팥죽을 얻어먹 고는 자라는 물독 속으로 퐁당, 알밤을 아궁이 속에, 쇠동을 부엌 바닥에맷돌을 부엌문 선반 위에 않았어.
Cứ như vậy cho đến phân bò, cối đá, cái gùi, thảm rơm đến xin ăn cháo đậu đỏ sau đó baba đã nhảy vào sâu trong vại nước, hạt dẻ thì trốn sâu trong bếp lò, phân bò thì nằm trên sàn bếp, cối đá thì ngồi trên giá đỡ của cửa bếp.
멍석을 부엍 앞에 넙죽 엎드리고, 지게는 마당 한구석에기대서 있었지.
thảm rơm thì nằm sấp gọn gàng trước bếp, còn cái gùi thì đang chờ ở góc sân.
동짖날 밤이 되자, 호랑이가 할머니 집 마당에 어슬 어슬렁들어었어.
Vào buổi đêm ngày đông chí, con hổ đã đi khệnh khạng vào trong sân nhà bà lão.
“할멈, 내가 왔어. 약속은 잊이 않았지?”
“Bà lão, ta đến rồi đây bà không quên lời hứa chứ?”
“오냐, 부앝 아궁에 동지 팥죽을 두었으니 가져다가 먹아라.”
“À đúng rồi, tôi đã để nồi cháo đậu đỏ đông chí ở trên bếp lò trong bếp, cậu hãy vào lấy rồi ăn đi.”
호랑이가 아궁이 속을 들여다 보는데, 알밤 이 툭 튀어나와 호랑이 눌을 딱 때렸어.
Con Hổ nhìn sâu vào trong bếp lò nhưng, bởi vì hạt dẻ đã bắn mạnh ra nên hạt dẻ đã trúng vào mắt con hổ.
호랑이를 앞이 안 보여 더금 거리다.
Nó không nhìn thấy đằng trước nên phải đi mò mẫm.
물독에 손을 넣었는데, 자라가 손을 꽉을 물었어.
Lấy nước ở trong vại nước để rửa mắt thế nhưng lại bị baba cắn vào tay một phát.
깜작 놀란 호랑이가 뒷걸음을 치다 그만 쇠똥을 밟고 미끄러졌지 뭐야.
Hỗ giật mình và lùi lại đằng sau thì giẫm phải phân bò và trượt ngã.
엉덩방아읗 찧은 호랑이가 부엌물을 나가려는데, 맷놀이 머리위로 콩 떨어쩠어.
Nó ngã ngồi xuống rồi định chạy ra phía cửa bếp thế nhưng cối xay đá đã rơi mạnh xuống đầu nó.
“아이쿠! 어흥! 호랑이 살려..!”
“Aigu! ahuhu! Cứu tôi với….!”
호랑이는 정신을 잃고 기어나오다 멍석 위로 넘어 졌어.
Con Hổ mất tỉnh táo và lê ra ngoài rồi vấp vào phía trên thảm rơm.
멍석이 호랑이 를 둘둘 말자 지제가 척 짊어지고 는 성큼성큼 달려가서 강물에 호랑이를 집어던졌지.
Thảm rơm cuộn tròn nó lại còn cái gùi thì cõng thảm rơm chạy vù đi rồi sau đó quăng con hổ xuống dưới sông.
그 후로, 할머니는 해마다 동짓날에 는 팥죽을 쑤어 고마운 친구들과 나뉘 먹는단다.
Sau đó, vào những ngày đông chí cuả mỗi năm bà đều nấu và chia sẻ cháo đậu đỏ với những người bạn xem như là lòng biết ơn.
Từ vựng:
팥죽: cháo đậu đỏ
맜있다: ngon
팥: cánh đồng
밭을 매다: làm cỏ
패가 고프다: đói bụng
무섭다: sợ
몸이: cơ thể
벌벌 떨리다: run cầm cập
생각:suy nghĩ
아쉽다: tiếc
입맛을 쩝쩝: chép miệng chậc chậc
한숨을 쉬다: thở dài
슬펴: buồn
자라: baba (con rùa nước)
지게: cái gùi
멍석: tầm thảm, đệm rơm
알밤: hạt dẻ
아궁이: bếp lò, lò sưởi
속: trong, bên trong
부엌: bếp
바닥: sàn đáy
맷돌: cối xay
부엌문: cửa bếp
선반 : giá đỡ
않다: ngồi
넙죽: chấp nhoáng, gọn
동짖날: ngày đông chí
어술렁대다: khệnh khạng
엉덩방아: ngã ngồi





























