Một bộ chữ đã được hình thành và phát triển vào thế kỷ thứ 15 và liên tiếp không ngừng được hoàn thiện cho đến ngày hôm nay. Đây là hệ thống bảng chữ vô cùng đơn giản và theo lịch sử ghi chép rằng người bình thường có thể học hết bảng chữ chỉ trong 1 ngày, chậm cũng chỉ 3 ngày, và tệ nhất là 10 ngày. Và sau đây chính là lịch sử hình thành và phát triển của bảng chữ hangul cho đến ngày hôm nay.

Lịch sử hình thành Hangul

Hangul ra đời vào thế kỉ thứ 15, nhờ vị vua của triều đại Joseon – Thế Tông hoàng đế (vua Sejong) sáng tạo nên. Trước khi Hangul được phát triển Hán tự (chữ Hán) là chữ viết chính tại đất nước của ông. Chữ Hán là một ngôn ngữ không hề dễ học nên chỉ có tầng lớp quý tộc mới được học chữ, còn lại đa số người dân nghèo không có tiền bạc để đi học thì đều bị mù chữ. Mỗi khi có dịch bệnh hoặc cáo thị từ triều đình gửi xuống, người dân đều lầm than vì không biết chữ, cũng chẳng có mấy điều kiện để học nên không di dân kịp, thế là dịch bệnh lan rộng khiến biết bao con dân phải chết.

lich-su-phat-trien-cua-bang-chu-hangul

Hiểu được tâm ý của dân, vua Sejong cùng với những học giả thân cận của mình đã nghiên cứu loại ngôn ngữ mới với mục đích để bất cứ người dân nào trên đất nước của ông cũng biết đọc biết viết, suy rộng hơn là một ngôn ngữ riêng cho dân tộc Triều Tiên, tách biệt với Hán tự. Là chữ quốc ngữ riêng của đất nước Joseon.

Chiếc cân công lý của xã hội phong kiến

Năm 1443, vua Sejong công bố Huấn dân chính âm, bao gồm 28 bảng chữ cái và sau đó 3 năm, quyển sách dạy chữ đầu tiên được ban hành. Với bảng chữ vô cùng dễ học này, bất cứ ai cũng có thể biết đọc và biết viết chỉ sau vài ngày. Ngôn ngữ này ngày càng phổ biến  và được dân nghèo xem như là chữ quốc ngữ. Dưới sự phổ cập của vua Sejong, Hangul vẫn tiếp tục được phát triển và khiến nhân dân bớt lầm than.

lich-su-phat-trien-cua-bang-chu-hangul

Tuy nhiên, ngôn ngữ này lại bị giới quý tộc tẩy chay, vì họ cho rằng ngôn ngữ này chỉ dành cho đám dân đen và Hán tự mới là ngôn ngữ hợp pháp duy nhất, nhưng thực ra cái chính yếu là họ sợ địa vị của mình bị lung lay bởi người dân đã thoát nạn mù chữ và họ khó bị tầng lớp quý tộc thao túng được nữa. Điều này khiến cho Hangul rơi vào một thời kì tăm tối khi vua Sejong qua đời, các vị vua kế tục ông còn cấm sử dụng Hangul. Trong thời kì này, Hangul chỉ được phụ nữ và người nghèo sử dụng, nó vẫn tồn tại một cách âm ỉ trong người dân.

Thời kì phát triển mạnh mẽ

Chỉ đến thế kỉ 17, nghĩa là đến 2 thế kỉ sau thì Hangul mới được trở lại dù không chính thức, và lần này hangul đã đạt đến sự phát triển lớn, các tập thơ và tiểu thuyết bằng Hangul xuất hiện ngày một nhiều hơn. Đến cuối thể kỉ 19, với sự phát triển mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tại bán đảo Triều Tiên, Hangul lần đầu tiên được chọn làm văn tự sử dụng trong các tài liệu chính thức và được phổ cập trong các trường học. Dù gặp một số khó khăn trong thời kì Nhật Bản đô hộ do bị ép phải học chữ Nhật, nhưng Hangul vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay song hành cùng sự phát triển mạnh mẽ của Hàn Quốc, Hangul đã được giảng dạy ở nhiều nước trên thế giới.